TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG PHAN BỘI CHÂU

Ngày đăng: 30 Tháng Năm, 2011

50 NĂM HÌNH THÀNH, XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN

Ghi nhận lại đầy đủ, trung thực sự kiện và con người của một quá trình 50 năm hình thành, xây dựng, phát triển của một ngôi trường thật không đơn giản và đúng hơn là thực sự vô cùng khó khăn.

Bởi lẽ, những con người của thời gian trước đã không còn hoặc đã đi khắp nơ. Những sự kiện và số liệu không còn nguyên vẹn nên khó có thể tổng hợp đầy đủ, sống động đoạn đường nửa thế kỷ qua của trường THPT Phan Bội Châu.

Bằng tấm lòng của những Thầy Cô giáo, học sinh ở nhiều giai đoạn khác nhau, chúng tôi chỉ ráp nối những sự kiện chưa quên, những con người còn nhớ. Với những nét chấm phá này mong sơ lược dựng lại hình ảnh ngôi trường Phan Bội Châu thân yêu 50 năm qua.

Rất tha thiết chờ mong những góp ý chân thật của quý Thầy Cô, của những người học sinh cũ để trả lại nguyên vẹn thực tế lịch sử phong phú và truyền thống tốt đẹp của ngôi trường chung qua một bước đi dài – 50 năm hình thành, xây dựng và phát triển Trường Trung học Phan Bội Châu Phan Thiết.

 

I. THUỞ BAN ĐẦU (1952 – 1956).

Kể từ năm 1885, sau khi triều đình Huế kí Hiệp ước Patenôtre với Thực dân Pháp, Bình Thuận là tỉnh cuối cùng ở phía Nam còn được coi là thuộc lãnh thổ của nước An Nam nằm dưới quyền “bảo hộ” của nước Pháp, kế cận với đất Nam Kỳ đã là “nhượng địa” cho Pháp. Nhân dân Bình Thuận cần cù, chuộng thực tế “văn chương không bằng xương cá mòi” nhưng cũng có truyền thống coi trọng việc học. Không phải ngẫu nhiên mà để xa lánh miền đất lục tỉnh “nay đà chia đất khác”, nhà nho yêu nước Nguyễn Thông đã tìm đến với mảnh đất nhỏ bên bờ sông Cà Ty làm “nơi tị địa”. Cũng không phải ngẫu nhiên, vào giữa thập niên thứ nhất của thế kỷ XX, nơi mảnh đất ấy đã hình thành nên “Dục Thanh học hiệu”, ngôi trường mà trên con đường cứu nước, người thanh niên Nguyễn Tất Thành đã ghé lại dạy học một thời gian trong năm 1910. Theo ý kiến nhiều người, trường Dục Thanh cũng là một kiểu “Đông Kinh nghũa thục”, mở ra nhằm nâng cao dân trí, bồi dưỡng cho thanh niên tinh thần tự lực tự cường.

Thế mà, kể từ sau khi nền Hán học đã cáo chung, Thực dân Pháp cho mở một số trường học mới, nhưng thực hành chính sách ngu dân, trừ ba thành phố lớn Hà Nội, Huế, Sài Gòn, ở các tỉnh chỉ có trường tiểu học. Trong hàng mấy chục năm trời, ở Phan Thiết, việc học lên đến bậc trung học chỉ là “đặc quyền” của một số con em nhà khá giả. Sau khi cầm được mảnh bằng tiểu học, ai còn muốn tiếp tục học lên thì phải hoặc vào Sài Gòn, hoặc ra tận ngoài Huế. Con em nhà nghèo hoặc là vào loại “thường thường bậc trung”, dù có học giỏi hay hiếu học đến máy cũng đành coi bậc tiểu học như là tầm trí thức cao nhất của mình rồi.

Cuộc Cách mạng Tháng Tám đập tan ách thuộc địa của Thực dân Pháp chưa được bao ngày thì cuộc chiến tranh xâm lược của chúng lại một lần nữa đè nặng lên cuộc sống của nhân dân Bình Thuận. Nằm trong vùng chiếm đóng của Pháp, cho đến giữa năm 1952, Bình Thuận nói chung, Phan Thiết nói riêng, cũng chưa có lấy một trường Trung học. Đây thật là một điều bức xúc đối với mọi người, càng bức xúc đối với những ai có chút lòng lo nghĩ đến quê hương xứ sở.

Chính vì thế mà trong những năm 1951-1952, những “chút lòng” ấy đã cùng nhau hợp lại, quyết tính đến chuyện mở trường, một mặt vừa làm thủ tục xin phép, một mặt chọn mượn địa điểm, phòng học, tìm người giảng dạy …

Thế rồi, khi các trường học bước vào năm học mới 1952-1953, thế hệ học sinh đầu tiên của Trường Trung học Bình Thuận cũng nô nức đến trường, đánh dấu sự khai sinh ngôi trường Trung học công lập đầu tiên trên đất Phan Thiết của tỉnh Bình Thuận. Gọi là Trường Trung học, thực chất là chỉ có hai lớp đệ Thất (tương đương với lớp 6 bây giờ), học trong hai phòng học nhờ của một trường Tiểu học (Trường Tiểu học Đức Thắng B).

Đáng quý và đáng trân trọng biết bao tấm lòng và nhiệt tình của những người thầy thuở ban đầu! Chúng ta ghi nhận công lao to lớn và biết ơn những người khai mở lịch sử tạo dựng “ngôi trường Trung học đầu tiên và duy nhất” cho tỉnh Bình Thuận thời ấy. Đặc biệt, phải thấy rằng việc mở trường vào thời điểm ấy là cả một sự táo bạo. Mọi việc đều bắt đầu từ con số không tròn trịa: không cơ sở vật chất, phải đi học nhờ ở trường Tiểu học, không ngân sách để trả lương cho thầy giáo đứng lớp, cũng không đội ngũ thầy cô giáo chính thức.

Tuy vậy, bằng ý chí và nhất là tấm lòng vì giáo dục, 13 người đáng tôn vinh mà mọi thế hệ học sinh ghi nhớ đã có công “dựng Trường Trung học” – Những sáng lập viên thuở sơ khai. Công lao đầu tiên thành lập trường thuộc về thầy Nguyễn Văn Trác dạy môn Luân lý công dân. Người điều hành hoạt động giáo dục của trường và giữ chức vụ Hiệu trưởng trước tiên ở năm học 1952 – 1953 là thầy Võ Văn Trưng dạy Pháp văn.

Bên cạnh thầy Hiệu trưởng còn có thêm 11 thầy giáo “chung sức chung lòng” giảng dạy 2 lớp đệ Thất đầu tiên tại trường Trung học Bình Thuận. Đó là các thầy Lê Bảo dạy Quốc văn, thầy Đào Đình Tân dạy Vạn Vật, thầy Nguyễn Rớ dạy Lý – Hóa, thầy Nguyễn Hữu Trạc dạy Anh văn, thầy Nguyễn Bá Giảng dạy Hán văn, thầy Nguyễn Xuân Giai dạy Sử Địa, thầy Võ Quang Dụ dạy Toán, thầy Lê Viết Phổ dạy Nhạc và thầy Hoàng Hữu Kiều dạy Thể dục. Sau đó bổ sung thầy Trần Thanh Dương dạy Pháp văn, thầy Nguyễn Đình Long dạy Anh văn và thầy Lê Hoàng Chung dạy Nhạc.

Vào giữa năm học 1953 – 1954, nghĩ đến việc sẽ cùng sánh vai với các trường Trung học trên đất nước, các thầy giáo cũng nghĩ đến một tên gọi riêng cho ngôi trường của mình. Chắc chắn không phải là tình cờ hay vô ý mà nằm giữa lòng vùng chiếm đóng của giặc Pháp, cái tên Phan Bội Châu – tên của một nhà yêu nước, chống Pháp trong suốt mấy mươi năm, đã được chọn làm tên trường. Trường Trung học Bình Thuận từ đó chính thức trở thành Trường Trung học Phan Bội Châu cho đến hôm nay.

Trong 4 năm học đầu tiên từ 1952 – 1953 đến 1955 – 1956 đã có 4 lần thay đổi Hiệu trưởng: thầy Võ Văn Trưng, thầy Trần Hữu Lương, thầy Nguyễn Xuân Tịnh và thầy Lê Tá ; và cũng phải 4 lần thay đổi địa điểm trường học: từ Trường Tiểu học Đức Thắng (nay là Trường Tiểu học Đức Thắng B) ban đầu chuyển về trường Nam Tiểu học Phan Thiết (nay là Trường Tiểu học Đức Thắng A) rồi chuyển sang một cơ sở tư nhân hàm hộ Hồng Hương (nay là trụ sở UBND thành phố Phan Thiết).

Kể từ năm học 1956 – 1957, trường được xây dựng mới, có cơ sở riêng theo mô hình thiết kế mẫu của Bộ Quốc gia giáo dục (cũ) trong khuôn viên hiện nay. Đó ngôi trường vẫn tồn tại qua nhiều năm tháng đến tận ngày hôm nay (nay là dãy nhà A). Ở đây, cũng cần ghi nhớ đến tấm lòng của vị chủ đất đã vui lòng nhượng lại khu đất của mình với sự khẳng khái: “Các ông mua đất để xây trại lính, nhà tù thì đắt bao nhiêu tôi cũng không bán, nhưng xây trường học thì dù giá rẻ tôi cũng bán”.

Năm học đầu tiên, hai lớp đệ Thất học chung một chương trình: Pháp – Anh và Hán văn. Kể từ năm học thứ hai (1953 – 1954), các lớp thực hiện chương trình mới với 2 ban: Ban ngoại ngữ (Pháp văn chính và Anh văn phụ) và Ban Cổ ngữ (Pháp văn chính và Hán văn phụ). Lúc ấy do thiếu người giảng dạy nên thường là một môn học có nhiều thầy giảng dạy và một thầy phải dạy kiêm nhiệm nhiều môn.
Qua 4 năm học, từ 2 lớp ban đầu, trường phát triển đều đặn thành 10 lớp Trung học gồm 4 lớp đệ Thất, 2 lớp đệ Lục, 2 lớp đệ Ngũ và 2 lớp đệ Tứ (hoàn chỉnh hệ Trung học Đệ Nhất cấp, bây giờ gọi là hệ Trung học cơ sở).

II. ỔN ĐỊNH VÀ HOÀN CHỈNH (1956 – 1962).

Từ năm học 1956 – 1957, trường đổi về địa điểm mới (cơ sở hiện nay). Mặc dù một bộ phận, một số lớp còn lại ở cơ sở cũ, song cơ bản đã bắt đầu thời kỳ “an cư”. Đội ngũ Thầy Cô cũng lần lượt bổ sung, trong đó nhiều Thầy Cô đã được đào tạo chính quy trong các trường Sư phạm. Các tổ chức trong trường khá đầy đủ, hoàn chỉnh.

Ngoài đội ngũ Thầy Cô giáo trực tiếp giảng dạy còn có các phòng chức năng: tài chính, giám thị, bảo vệ, phục vụ…

Các hoạt động giáo dục được mở rộng. Bên cạnh dạy và học các bộ môn văn hóa còn có hoạt động văn nghệ, thể dục, thể thao, báo chí, sinh hoạt tập thể, hoạt động xã hội…

Từ năm học 1955 – 1956 trở về trước, muốn thi tốt nghiệp Trung học Đệ Nhất cấp (nay là Trung học cơ sở), học sinh phải ra tận Nha Trang. Nhưng từ năm 1956 – 1957, khóa thi này đã được tổ chức tại Phan Thiết cùng với một lớp Đệ Tứ của Trường Trung học tư thục Tiến Đức. Tuy vậy, ở Phan Thiết lúc bấy giờ chỉ tổ chức Hội đồng thi viết. Nếu đỗ, học sinh còn phải tiếp tục kỳ thi vấn đáp ở Nha Trang. Phải đến năm học 1957 – 1958, học sinh mới được dự thi hoàn chỉnh Trung học Đệ Nhất cấp, cả viết và vấn đáp ở Phan Thiết.

Học sinh Phan Bội Châu lúc đó thi đậu tốt nghiệp với tỷ lệ khá cao. Nhưng sau đó, để có thể tiếp tục học lên chương trình Trung học Đệ Nhị cấp, vẫn phải khăn gói rời quê nhà để lên các tỉnh khác như Sài Gòn, Nha Trang và xa hơn nữa, đi học ở Huế nếu có điều kiện thuận lợi.

Chỉ đến năm 1959 – 1960, trường Phan Bội Châu mới có 3 lớp đệ Tam. Đó là năm học đầu tiên trường Phan Bội Châu có các lớp Đệ Nhị cấp (cấp 3). Đến năm 1961 – 1962, trường có 2 lớp đệ Nhất, thành trường có quy mô đào tạo hoàn chỉnh bậc Trung học, suốt từ lớp Đệ Thất cho đến lớp đệ Nhất. Niên khóa 1964 – 1965, kỳ thi Tú tài phần thứ nhất và mãi đến năm 1966 – 1967, kỳ thi Tú tài toàn phần mới được tổ chức ở Phan thiết nhưng vẫn trực thuộc Hội đồng khảo thí Nha Trang.

Trong các kỳ thi Trung học Đệ Nhất cấp, Tú tài 1, Tú tài 2, học sinh Phan Bội Châu không chỉ đậu đạt tỷ lệ cao mà còn luôn chiếm những thứ hạng cao, được đánh giá là một trong những trường dẫn đầu về kết quả học tập ở khu vực miền Trung.

Đây là niềm tự hào không chỉ của thầy trò mà còn là niềm tự hào của phụ huynh có con em là học sinh nhà trường và cả nhân dân Bình Thuận.

Bên cạnh việc học tập đạt hiệu quả chất lượng cao, Trường Phan Bội Châu còn đạt nhiều thành tích trong các công tác xã hội và hoạt động văn thể mỹ.

Mặc dù chưa có quan điểm rõ rệt, song bằng hành động, Trường Phan Bội Châu đã tổ chức cho học sinh tham gia lao động có ý nghĩa: san lấp mặt bằng, nâng cao sân trường Nam tiểu học và quyên góp tiền của, cử đoàn ra Tấn Lộc, Mỹ An – Phan Rang giúp đồng bào khắc phục hậu quả lũ lụt hơn 1 tuần lễ năm 1964. Đây là lần đầu tiên có học sinh làm công tác xã hội ở ngoài tỉnh.

Năm 1960, Trường Phan Bội Châu đạt giải nhất cuộc thi bách báo các trường Trung học trong cả nước (Miền Nam) và cũng năm đó nhà trường đạt chức vô địch thi đấu giữa các trường khu vực miền Trung.

Phong trào văn nghệ nhà trường luôn duy trì qua các dịp lễ Tết hàng năm với những chương trình hấp dẫn, những vở kịch lịch sử in đậm chiến tích hào hùng của tiền nhân: Hội nghị Diên Hồng, chiến thắng Đống Đa – Ngọc Hồi, chiến thắng Bạch Đằng… Những buổi văn nghệ phục vụ cho Lễ phát thưởng cuối năm đã để lại những kỷ niệm đẹp cho nhiều học sinh mãi đến sau này.

Một đoạn đường không dài – hơn 10 năm – từ lúc lập trường đến khi hoàn chỉnh 2 cấp học, thực sự gian nan, vất vả nhưng để dấu ấn khó phai đối với thế hệ thầy trò đầu tiên trường Phan Bội Châu.

Nó đánh dấu buổi sơ khai rồi dần ổn định và hoàn chỉnh một trường Trung học Đệ Nhị cấp có đầy đủ uy tín và sức vóc để bước tiếp những chặng đường khó khăn, thử thách nhưng vô cùng cao quý trong sự nghiệp trồng người ở quê hương Phan Thiết.

III. THỜI KÌ PHÁT TRIỂN (1963 – 1975).

Là một trường nằm trong vùng địch tạm chiếm với đa số học sinh là con em nhân dân lao động, trong hoàn cảnh đất nước có chiến tranh ác liệt, bối cảnh xã hội có nhiều biến cố quan trọng, nên việc học hành của con em địa phương cũng bị ảnh hưởng không nhỏ. Tuy vậy, sau giai đoạn 10 năm hình thành, ổn định và hoàn chỉnh, trường Trung học Phan Bội Châu đã tiếp tục phát triển và càng khẳng định hơn vị trí của mình: đó là sự tin yêu hết lòng của phụ huynh học sinh và niềm tự hào của nhân dân Bình Thuận về một ngôi trường có truyền thống hiếu học, có nền nếp kỷ luật, có truyền thống đấu tranh cách mạng kiên cường. Đặc biệt, đối với các thế hệ học sinh trong tỉnh rất vinh dự được học dưới mái trường thân yêu mang tên nhà chí sĩ yêu nước, người lãnh đạo phong trào Đông Du trong những năm đầu của thế kỉ XX.

Sau khi phát triển thành trường Trung học đệ nhị cấp hoàn chỉnh, trường tiếp tục tăng nhanh về số lượng lớp và học sinh qua mỗi năm học: từ 31 lớp với 1725 học sinh năm học 1963 – 1964 đã lên đến 44 lớp /2257 học sinh năm học 1969 – 1970 và đạt 72 lớp /4092 học sinh vào năm 1974 – 1975 (sau 10 năm số lớp và số học sinh tăng gần gấp hai lần rưỡi), là một trường có qui mô tầm cỡ đối với các tỉnh miền Trung và đồng bằng Nam Bộ thời bấy giờ. Thực tế ngân sách đầu tư cho việc xây dựng cơ sỏ vật chất không nhiều, nên trường đã vận động và được sự đóng góp tích cực của phụ huynh, của các vị “Mạnh Thường Quân” trong tỉnh, đặc biệt là công sức của nhiều thế hệ học sinh đã góp phần để bổ sung thêm phòng học, bảo quản cơ sở vật chất làm cho bộ mặt của trường ngày càng hoàn thiện hơn.

Nhu cầu học tập và việc nâng cao dân trí ngày càng đòi hỏi cao hơn trong khi việc phát triển trường lớp lại rất chậm không đáp ứng được yêu cầu. Hơn nữa vì là trường Trung học công lập có uy tín vào bậc nhất của tỉnh nên việc thi tuyển sinh vào các lớp đệ Thất của trường Phan Bội Châu vào đầu mỗi năm học (lớp 6 bây giờ) là một thách thức to lớn để các sĩ tử vừa tốt nghiệp xong Tiểu học thi thố tài năng thực sự của mình (thi ba môn: làm văn, toán và khoa học thường thức). Đây là kỳ thi được phụ huynh học sinh và toàn xã hội chú ý quan tâm đặc biệt. Thật may mắn và hạnh phúc biết baocho những ai vượt qua được ngưỡng cửa của cuộc thi quan trọng và đầy cam go này. Đây cũng là một dấu mốc, một ấn tượng không thể nào quên cho quãng đời học sinh của mỗi người: ngày ngày được cắp sách bước vào ngưỡng cửa của trường Trung học Phan Bội Châu Phan Thiết.

Từ các năm học 1963 – 1966 thầy Nguyễn Đức Hiển và sau đó là thầy Đào Trữ làm Hiệu trưởng nhà trường, các năm 1966 – 1967: thầy Nguyễn Tiến Thành Hiệu trưởng (Giám học thầy Nguyễn Thanh Tùng), 1967 – 1972: thầy Nguyễn Thanh Tùng Hiệu trưởng (Giám học thầy Lê Khắc Anh Vũ), 1972 – 1975: thầy Lê Khắc Anh Vũ Hiệu trưởng (Giám học là thầy Ngô Văn Ba). Các thầy Hiệu trưởng cùng một đội ngũ đông đảo các thầy cô của các bộ môn được qui tụ từ nhiều tỉnh về dạy tại trường, các thầy giám thị, các thầy làm học vụ, hành chính… đã có nhiều cố gắng trong việc nâng cao chất lượng dạy và học.

Do việc tuyển sinh đầu vào với chất lượng khá cao nên là một cơ sở thuận lọi để nhà trường thực hiện có kết quả và Trường Trung học Phan Bội Châu là một trong số ít trường “nổi tiếng” về nền nếp, kỷ luật, về chất lượng học tập và các phong trào văn hóa văn nghệ, hoạt động thể dục thể thao đối với các tỉnh Trung phần và cả các tỉnh miền Nam. Trong giai đoạn này đã có nhiều thầy cô là học sinh cũ của trường như các thầy Ngô Văn Ba, Hoàng Công Bình, Mai Trung Trực, Ung Thị Minh Yến, Lê Văn Hộ, Đinh Quốc Hùng, Võ Hữu Tuyết… đã lại tiếp tục kề vai sát cánh với các thầy giáo cũ của mình trong việc dìu dắt các thế hệ học sinh nối tiếp của trường.

Nhiều thầy cô tâm huyết với nghề nghiệp, tận tình dìu dắt học sinh, mãi mãi để lại trong lòng các thế hệ học trò lòng vô cùng biết ơn và sự kính trọng.

Đặc điểm nổi bật nhất và cũng là niềm tự hào của trường là sự chăm chỉ, sự hiếu học của phần đông học sinh nên chất lượng học tập của học sinh tương đối đồng đều, có nhiều học sinh khá giỏi. Học sinh được chọn vào học sinh ngữ chính từ lớp đệ Thất (Anh văn hoặc Pháp văn), đến lớp đệ Tam học thêm một sinh ngữ phụ (Pháp văn hoặc Anh văn) và các lớp Đệ nhị cấp của trường gồm 2 ban chính: Ban A (Vạn Vật), Ban B (Toán), một số năm học còn có thêm ban C (Văn chương). Việc phân ban được thực hiện và duy trì đều đặn hàng năm làm cho chất lượng học tập được ổn định. Với kinh nghiệm nghề nghiệp và sự dìu dắt tận tình của thầy cô giảng dạy các bộ môn, phong trào học tập khá sôi nổi và hứng thú, đặc biệt là các buổi thuyết trình những tác phẩm văn học là những ấn tượng khó quên. Hàng năm tỉ lệ học sinh lên lớp, tốt nghiệp Tú tài 1, Tú tài 2, số học sinh trúng tuyển vào các trường Đại học là khá cao so với các tỉnh miền Nam. Hàng năm đều có những học sinh đặc biệt xuất sắc (đạt tối ưu trong các kì thi Tú tài, một số được học bổng du học sang các nước) là niềm tự hào, đã góp phần tạo nên nét đẹp truyền thống của nhà trường.

Phong trào văn nghệ, hoạt động thể dục thể thao cũng là nét nổi bật của nhà trường trong giai đoạn 1963 – 1974. Với 2 ban nhạc (gồm một ban nhạc học sinh nam và một ban nhạc học sinh nữ) dưới sự hướng dẫn của thầy Lê Hoàng Chung cùng một lực lượng đông đảo học sinh có năng khiếu văn nghệ là lực lượng nòng cốt trong phong trào văn nghệ của nhà trường.Các bộ môn bóng đá, bóng chuyền, bóng rổ, bóng bàn, điền kinh cũng là thế mạnh của trường và thu hút đông đảo học sinh tham gia. Trong các kỳ hội diễn và thi đấu khu vực các tỉnh Nam Trung phần hàng năm (gồm các tỉnh Khánh Hòa, Ninh Thuận, Lâm Đồng và Bình Thuận), trường luôn đạt thứ hạng cao, có năm đã đoạt giải nhất về bóng đá hoặc văn nghệ. Phong trào viết và thi bích báo (báo tường) giữa các lớp, ra đặc san hàng năm cũng đã lôi cuốn nhiều học sinh tham gia. Trong những kỳ nghỉ hè một số học sinh đã tình nguyện tham gia vào hoạt động lao động tu sửa, xây dựng các công trình phục vụ thiết thực cho việc dạy và học của thầy và trò. Học sinh của trường cũng đã thực hiện tốt các hoạt động xã hội mang tính nhân đạo mà điển hình là hai đợt vận động quyên góp ủng hộ đồng bào bị bão lụt ở các tỉnh miền Trung và Ninh Thuân năm 1964. Ngoài việc quyên góp tiền bạc, quần áo cũ, trường đã tổ chức một đoàn gồm 71 học sinh nam do thầy Vũ Hữu Canh chỉ huy ra Ninh Thuận để giúp đỡ đồng bào khắc phục hậu quả bão lụt.

Thành tích đặc biệt xuất sắc của trường Trung học Phan Bội Châu là đã tổ chức được lực lượng cách mạng trong trường học để tiến hành đấu tranh chính trị và hoạt động võ trang, làm nòng cốt trong các hoạt động đấu tranh cách mạng của phong trào thanh niên học sinh Phan Thiết, tích cực góp phần vào công cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Bình Thuận.

Năm 1963, sau khi Ngô Đình Diệm bị lật đổ, cùng với khí thế chung của cả miền Nam, học sinh Phan Bội Châu đã phát động phong trào đấu tranh liên tục suốt 2 năm 1964 – 1965 với nhiều hình thức như mít tinh, biểu tình, bãi khóa với các khẩu hiệu đòi trừng trị đám Cần lao Nhân vị và những kẻ ủng hộ Diệm – Nhu, đòi tự trị học đường, đòi đưa chính trị ra khỏi trường học, phản đối chế độ quân dịch… đã thu hút lực lượng học sinh của các trường bạn, các tầng lớp nhân dân Phan Thiết và vùng ven tham gia sôi nổi. Cuộc đấu tranh đã trở thành cao trào trong năm 1966 khi quân đội Mỹ có mặt tại Phan Thiết, với sự ra đời của các tổ chức công khai trong học sinh là: “Lực lượng học sinh Phan Bội Châu tranh thủ Hòa bình, Độc lập, Tự do” (tháng 2/1966) và sau đó là tổ chức: “Lực lượng Thanh niên Sinh viên Học sinh tỉnh Bình Thuận tranh thủ cách mạng” (tháng 5/1966).

Các cuộc đấu tranh đã liên tục diễn ra với những cuộc biểu tình, tuyệt thực, bãi khóa, đình công, bãi thị, đốt hình nộm Thiệu – Kỳ, nêu các khẩu hiệu chống Mỹ, chống Thiệu – Kỳ – Có, đòi hòa bình và chấm dứt chiến tranh. Đặc biệt là cuộc biểu tình vào các ngày 12, 13/4/1966 của học sinh, ngày 27/5/1966 (có sự phối hợp với lực lượng Phật giáo) thu hút đông đảo hơn một vạn người tham gia.

Hè năm 1966, Đội công tác thanh niên học sinh đô thị tỉnh được thành lập. Đến năm 1968 đã phát triển lên 3 Chi đoàn, 5 Chi hội học sinh giải phóng và một số đội viên Đội công tác đô thị hoạt động ở trường Bồ Đề. Sau cuộc Tổng tấn công Xuân Mậu Thân 1968 – 1969, 3 Chi đoàn Thanh niên trong nhà trường đã được thành lập lại và tiếp tục phát triển. Ngày 28 – 12 – 1972, một sự kiện đặc biệt mà chưa một trường học nào ở các đô thị miền Nam vinh dự có được, đó là Chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên trong học sinh Trường Trung học Phan Bội Châu được thành lập gồm 3 đảng viên trẻ, đánh dấu sự trưởng thành vượt bậc về chính trị trong lực lượng học sinh.

Cơ sở cách mạng của học sinh trường Phan Bội Châu còn mở rộng hoạt động và phát triển sang tất cả các trường Trung học khác ở Phan Thiết như Trường Bán công, Bồ Đề, Tiến Đức, Tỉnh hạt, Nông lâm súc và Chính Tâm.

Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Đội công tác thanh niên học sinh tỉnh, từ năm 1972 về sau phong trào đấu tranh của học sinh chuyển hẳn vào trong trường học với các nội dung và khẩu hiệu đòi quyền dân chủ, đòi thành lập Ban điều hành học sinh, đòi thành lập Đoàn Thanh niên thiện chí, chống chương trình đôn quân, bắt lính… nhằm chuẩn bị lực lượng để đón thời cơ.
Tuy không phải là hoạt động chủ yếu nhưng hoạt động vũ trang cũng đã được tiến hành: từ năm 1964 – 1967 các cơ sở cách mạng là học sinh của nhà trường ở vùng ven Phan Thiết đã được huy động để phục vụ cho các hoạt động vũ trang tuyên truyền ở địa bàn cư trú như tham gia rải truyền đơn, truy quét, cảnh cáo các đối tượng ác ôn… Từ năm 1967, truyền đơn được rải ở khu vực trường Phan Bội Châu, sau đó truyền đơn được rải ngay cả trong trường học và các vùng phụ cận. Có vụ do học sinh trực tiếp thực hiện, có vụ còn có cả thầy cô giáo tham gia.

Không dừng lại ở mít tinh, biểu tình, rải truyền đơn… mà lực lượng học sinh còn dùng thuốc nổ đánh vào Đài nước ở vườn hoa Thị xã, nơi đặt đài phát thanh tuyên truyền của địch; đánh vào rạp Ngọc Thúy, nơi địch tổ chức buổi lễ “Cây mùa Xuân” để quyên góp tiền ủng hộ lính ngụy ở chiến trường…

Ngoài lực lượng đấu tranh tại chỗ, trong quá trình phát triển của mình, hàng trăm học sinh của trường Phan Bội Châu đã thoát ly tham gia cách mạng, đã kịp thời bổ sung quân số cho lực lượng vũ trang địa phương, đóng góp nguồn nhân lực hết sức quan trọng cho các cơ quan lãnh đạo kháng chiến, trong đó rất nhiều học sinh của trường đã bị bắt bớ, tra tấn, tù đày, đã cống hiến một phần thân thể của mình hoặc đã ngã xuống trên quê hương Bình Thuận trong cuộc chiến tranh cứu nước vĩ đại của dân tộc.

Giai đoạn hơn 10 năm (1963 – 1975) đã đánh dấu sự phát triển nhanh chóng về số lượng, sự vững vàng về chất lượng, đặc biệt sự trưởng thành vượt bậc về chính trị của lực lượng học sinh khi cuộc kháng chiến ở vào những giai đoạn ác liệt và gay go nhất. Dù trải qua những sự kiện, những biến cố thăng trầm của lịch sử, trường Trung học Phan Bội Châu với các thành tích đặc biệt xuất sắc đã khẳng định giá trị đích thực của mình. Điều đó rất xứng đáng với sự tin yêu của nhân dân Bình Thuận và mãi mãi là niềm tự hào chung của tất cả các thế hệ thầy trò của trường.

Sau đại thắng Mùa Xuân 1975, cùng với khí thế chung của cả nước, thầy trò trường Trung học Phan Bội Châu lại tiếp tục lật sang trang sử mới, viết tiếp những chặng đường lịch sử với những truyền thống vẻ vang của mình.

 

IV. XÂY DỰNG NHÀ TRƯỜNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA (1975 – 1985).

Sau hơn 20 năm chống Mỹ cứu nước, miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, đi lên chủ nghĩa xã hội. Miền Nam nói chung, Thuận Hải nói riêng (bao gồm cả hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận bây giờ) tích cực giải quyết hậu quả chiến tranh, tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa: Ở nông thôn tiến hành cải tạo nông nghiệp vận động xây dựng HTX; ở thành thị cải tạo công thương nghiệp, xóa bỏ tư sản ngoại bản, xây dựng kinh tế tập thể, quốc doanh, phân bố lại lao động. Hàng trăm gia đình ở thị tứ, thị trấn, thị xã đi xây dựng các vùng kinh tế mới ở Đức Linh, Tánh Linh, Hàm Thuận… Bên ngoài, các lực lượng thù địch, đứng đầu là Mỹ, bao vây, cấm vận Việt Nam, đồng thời ra sức tuyên truyền chống phá Cách mạng và Nhà nước Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, lôi kéo người Việt Nam vượt biên trái phép ra nước ngoài mà các tỉnh ven biển như Thuận hải chịu ảnh hưởng nặng nề. Trong bối cảnh ngày càng có nhiều yếu tố tích cực về tinh thần tác động đến nhà trường, nhưng cũng có không ít những khó khăn trong cuộc sống của cả thầy và trò.

Từ năm học đầu tiên sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng (1975 – 1976), nhằm ổn định việc học tập cho con em nhân dân, Ty Giáo Dục tỉnh Bình Thuận đã tổ chức lại mạng lưới trường học. Trên địa bàn Phan Thiết chỉ còn duy nhất một trường cấp 3 (Trung học) là Phan Bội Châu. Năm học mới được khai giảng trong niềm vui lớn đất nước được giải phóng và hòa bình. Học trò vui được gặp lại nhau, được học hành sau những ngày bom đạn ác liệt, được ngồi cùng trong một lớp không chỉ học sinh Phan Bội Châu mà còn có cả học sinh các trường Bán công, tư thục đã giải thể. Thầy cô vui vì trong Hội đồng không chỉ có giáo viên tại chỗ lưu dung giáo viên đi kháng chiến ở chiến khu về mà có cả giáo viên A chi viện, cùng dạy một chương trình, cùng sinh hoạt, hội họp, cùng chia xẻ những khó khăn, vui buồn của cuộc sống.

Năm học này, thực hiện mô hình thống nhất của nhà trường trên cả nước, hệ cấp hai được tách riêng, trường Phan Bội Châu trở thành trường Cấp 3, chỉ gồm 3 cấp lớp: lớp 10, lớp 11, lớp 12, theo 3 ban: ban A (Văn), ban C (Toán), ban D (Sinh vật).

Thầy Trần Hữu Bình về làm Hiệu trưởng (Phó Hiệu trưởng là thầy Nguyễn Văn Hồng và một năm sau đó thêm thầy Lê Văn Ưng). Thầy Bình vốn quê ở Hàm Thuận – Bình Thuận, tham gia kháng chiến chống Pháp rồi ra Bắc tập kết, hoạt động trong ngành giáo dục, về lại quê hương, là người rất năng nổ, tế nhị, gần gũi với giáo viên, học sinh, nhất là giáo viên tại chỗ để tập hợp, đoàn kết, xóa dần mặc cảm để cùng vươn lên và khẳng định mình. Thầy còn là trung tâm đoàn kết giáo viên Bắc Nam, đã dần tạo ra một môi trường sụ phạm tích cực, một không khí giảng dạy và học tập phấn khởi, thực sự đem lại niềm tin cho các gia đình, cho nhân dân Thị xã Phan Thiết trong những năm đầu bộn bề phức tạp. Hình ảnh của thầy gắn liền gắn liền với sân khấu của Trường hiện nay. Sân khấu được thầy Bình tổ chức cho thầy trò nhà trường tự xây dựng, là sân khấu ngoài trời lớn và duy nhất của Thị xã Phan Thiết lúc bấy giờ. Cũng từ đây, sân khấu nhà trường không chỉ phục vụ cho các hoạt động giáo dục của Trường mà còn là nơi tổ chức các sinh hoạt chung của ngành và địa phương nhất là các sinh hoạt văn hóa, văn nghệ.

Tháng 10/1977, thầy Bình chuẩn công tác về Ty Giáo Dục Thuận Hải, thầy Lê Văn Ưng thay thế làm Hiệu trưởng (Hiệu phó: thầy Lương Duy Cán, Hoàng Công Bình) trong những năm 1977, 1978 đến đầu năm 1981. Công sức của thầy Ưng đối với trường là đã đưa các hoạt động của trường vào nền nếp với quy định, quy chế rõ ràng, từ các hoạt động dạy và học, lao động, cho đến các hoạt động đoàn thể, hoạt động ngoại khóa, bước đầu định hình phong cách một nhà trường xã hội chủ nghĩa thời bao cấp với nội dung giáo dục toàn diện, thể hiện nguyên lý giáo dục: Học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động, nhà trường gắn liền với xã hội.

Năm 1981, thầy Ưng được chuyển về Sở tham gia quản lý ngành, thầy Đoàn Văn Mượt, một cán bộ Phòng phổ thông thay thế làm quyền Hiệu trưởng học kỳ II ( 1980-1981 ), Phó Hiệu trưởng: cô Phạm Thị Mỹ Từ, thầy Đàm Quang Hiển, thầy Hoàng Xuân Diên. Từ năm 1981-1982, Hiệu trưởng là thầy Đinh Hữu Hồ và Phó Hiệu trưởng là cô Phạm Thị Mỹ Từ, Trần Công Tân. Thầy Hồ quê Quảng Bình, rất năng nổ trong việc đưa lao động sản xuất vào nhà trường: có định hướng ngành nghề, có chú ý hiệu quả kinh tế.

Năm 1984, thầy Hồ chuyển công tác xa, thầy Trần Công Tan làm Hiệu trưởng ( Hiệu Phó: các thầy Trần Đình, Nguyễn Duy Trinh, Hoàng Công Bình ).
Lực lượng thầy cô giáo, công nhân viên của trường ngày một đông: Một lực lượng lớn giáo viên tại chỗ tiếp tục dạy sau ngày giải phóng, một bộ phận nòng cốt được chi viện từ các tỉnh phía Bắc, một số mới tốt nghiệp từ các trường đại học Sư Phạm. Đội ngũ các thế hệ sư phạm trưởng thành từ nhiều trường Đại học Sư Phạm trong nước, đã đồng cam cộng khổ, đoàn kết, mang hết nhiệt tình, khả năng, tấm lòng nghề nghiệp: Tất cả vì học sinh thân yêu, vì nhà trường Phan Bội Châu.

Cùng với một bộ máy quản lý mới và một đội ngũ giáo viên, nhân viên được tăng cường cả về số lượng lẫn chất lượng, cùng từ năm học đầu tiên sau ngày giải phóng, trường Phan Bội Châu đã bắt đầu hình thành những tổ chức mới chưa từng có trong nhà trường trước đây. Đó là:

1.Chi bộ Đảng Cộng sản Việt Nam: – như phần III trên đây đã nói đến, trước ngày giải phóng 19-04-1975, dưới sự chỉ đạo của Tỉnh ủy Bình Thuận mà trực tiếp là Đội Công tác Đô thị Tỉnh Bình Thuận, Chi bộ Đảng đầu tiên của nhà trường được thành lập vào ngày 28-12-1972 ( gồm có 3 học sinh lớp 12, Bí thư đầu tiên là đồng chí Trần Thị Nguyệt Bạch ). Sau giải phóng, thực hiện sự chỉ đạo của Tỉnh ủy Bình Thuận, Chi bộ Đảng đã được thành lập gồm những Đảng viên từ miền Bắc chuyển vào. Bi thư là cô Lê Thị Thanh Tâm, giáo viên chính trị. Trải qua mấy chục năm, cho đến hôm nay, Chi bộ trường Phan Bội Châu đã không ngừng lớn mạnh, đảm bảo sự lãnh đạo trực tiếp và toàn diện đối với nhà trường trong việc thực hiện đường lối giáo dục của Đảng.

2. Đoàn Thanh Niên Cộng Sản Hồ Chí Minh: – Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, trường Phan Bội Châu đã có cơ sở Đoàn Thanh niên Nhân dân Cách mạng hoạt động bí mật dưới sự lãnh đạo của Đội công tác Đô thị Bình Thuận. Do đó, vừa giải phóng thì phong trào hoạt động của thanh niên học sinh nhà trường đã rất sôi nổi: thu dọn tàn dư chiến tranh, xóa bỏ khẩu hiệu phản động của chế độ Ngụy Sài Gòn, thủ tiêu sách báo phản Cách mạng, làm vệ sinh đường phố…Năm học 1975-1976, tổ chức Đoàn trong nhà trường đã được hoàn chỉnh, các lớp đều có Chi đoàn. Đoàn trường có Ban chấp hành ( thầy Đậu Đình Nga làm Bí thư ). Năm học 1976-1977, Đại hội Đoàn trường đầu tiên được tổ chức, thầy Lê Văn Ưng làm Bí thư và một số học sinh làm Ủy viên Ban chấp hành. Tổ chức Đoàn được thành lập đã xây dựng được lực lượng xung kích, góp phần quan trọng vào thành tích chung trong tất cả các hoạt động chung của trường.

3. Tổ chức Công Đoàn: – Với số lượng đoàn viên Công Đoàn là các thầy cô giáo từ miền Bắc chi viện, tổ chức Công đoàn đầu tiên của Trường được thành lập ngay từ năm 1975, thầy Nguyễn Trung Tín làm Thư ký Ban chấp hành lâm thời. Công đoàn đã tích cực lo toan đời sống cho đội ngũ, là chỗ dựa tinh thần đối với các thầy cô từ miền Bắc vào. Đối với giáo viên miền Nam, Công đoàn là tổ chức tập hợp, giáo dục đường lối, lôi cuốn anh chị em dần vào tổ chức Công đoàn.

Ngoài các tổ chức trên, các tổ chức khác như Hội Cha mẹ học sinh, Hội Chữ Thập đỏ cũng được chú ý xây dựng và đưa vào hoạt động rất sớm, hỗ trợ rất tốt cho hoạt động chung của nhà trường.

Như vậy, các tổ chức chính trị, đoàn thể quần chúng cần thiết trong nhà trường đã được xây dựng ổn định từ lúc mới giải phóng. Đó chính là những tiền đề để cho trường Phan Bội Châu thực hiện được nhiệm vụ của mình trong những hoàn cảnh khó khăn mà cuộc sống đặt ra qua suốt chặng đường mười năm từ sau ngày giải phóng cho đến khi đất nước bước vào thời kì đổi mới.

 

VIỆC DẠY VÀ HỌC:

Từ năm học 1975-1976, lần đầu tiên trong hệ thống quản lý chuyên môn của trường Phan Bội Châu bắt đầu hình thành các tổ bộ môn: Tổ Toán, Tổ Lý, Tổ Hóa – Sinh, Tổ Văn, Tổ Sử – Địa – Chính trị, Tổ Văn phòng…

Lấy việc dạy và học làm nhiệm vụ trung tâm của trường, lãnh đạo nhà trường đã có những biện pháp thích hợp trong bối cảnh lúc bấy giờ đội ngũ chưa thật sự đồng nhất, người đã qua giảng dạy ở nhà trường miền Bắc khá vững vàng, người mới được đào tạo ở miền Nam còn bỡ ngỡ còn bỡ ngỡ với việc giảng dạy nội dung mới nhất là các bộ môn xã hội. Trường đã tổ chức cho anh chị em soạn giáo án tập thể theo từng môn, vận dụng kinh nghiệm của các thầy miền Bắc làm nòng cốt. Việc này đã giúp anh chị em giáo viên tại chỗ nhanh chóng tiếp cận nội dung sách giáo khoa, xây dựng ý thức trách nhiệm tập thể. Tổ chức thao giảng, dự giờ, học chính trị hè. Học chính trị trong dịp hè được tổ chức đều đặn trong toàn Tỉnh, thời gian ít nhất là 1 tháng với những nội dung cơ bản nhằm giúp giáo viên nâng cao nhận thức chính trị, hiểu thêm về đường lối, chủ trương của Đảng, từ đó có thể vận dụng vào việc giảng dạy, hoạt động có hiệu quả hơn. Kết quả giảng dạy, học tập ngày càng được nâng cao, tỉ lệ tốt nghiệp từng năm đều ở mức trên 80%.

Bắt đầu từ năm 1976 – 1977, công việc dạy học đã nhanh chóng đi vào nền nếp: mỗi giáo viên đều có kế hoạch giảng dạy toàn diện cho cả năm học, cho từng học kỳ, có lịch báo giờ hàng tuần. Việc kiểm tra chuyên môn của Hiệu trưởng, Hiệu phó cũng đi vào nền nếp.

Đối với học sinh, đã dần hình thành nền nếp và phong cách học tập mới, hướng tới việc học đều các môn, chống học tủ, học lệch. Cùng với tổ chức Đoàn Thanh niên, Ban giám hiệu đã mở một số cuộc vận động xây dựng phong cách và phương pháp học tập chủ động, sáng tạo, học sinh giúp nhau trong học tập, đã được học sinh trong toàn trường tham gia sôi nổi.

 

GIÁO DỤC LAO ĐỘNG VÀ LAO ĐỘNG SẢN XUẤT:

Nét mới nhất đối với giáo viên và học sinh trong hoạt động của nhà trường từ sau ngày giải phóng chính là giáo dục lao động và lao động sản xuất. Nếu như trong năm học đầu tiên, hoạt động này chỉ được giới hạn trong việc thực hiện một số hình thức lao động mang tính tự phục vụ và công ích nhằm xây dựng thái độ quý trọng lao động, thì chỉ hai năm sau, lao động trong nhà trường Phan Bội Châu đã đi vào ổn định và có mục tiêu rõ ràng là hướng tới lao động sản xuất, góp phần tạo ra của cải cho xã hội.
Có thể kể môt số công việc chính mà thầy và trò trường Phan Bội Châu đã làm được trong khoảng thời gian đó:

Lao động công ích: Góp phần xây dựng các công trình lớn của Tỉnh như: Thủy lợi sông Pha, đập nước Phú Hội, nhà máy điện Hàm Liêm, khu di tích Dục Thanh, khu dân cư cây Keo Phan Thiết… tham gia trồng cây hai bờ sông Cà Ty, Hàm Tiến, Tiến Thành.

Tháng 1/1978,vì nguồn nước sinh hoạt của Thị xã Phan Thiết, giữa nắng gió đất trời Bình Thuận, 900 học sinh Phan Bội Châu lại dựng trại giữa đồng không Nam bờ sông Mương Mán, Phú Hội, tham gia nạo vét 792m3 cát bùn dưới lòng sông đưa nước về cho nhà máy, tham gia lao động ở Ninh Thuận, xây dựng nền mống nhà máy điện Hàm Liêm. Trong năm học 1978 – 1979, học sinh trường Phan Bội Châu đã góp hàng ngàn ngày công vào việc xây dựng Nghĩa Trang Liệt Sĩ tỉnh Thuận Hải. Có thể nói, tham gia vào bất kỳ công việc lao động công ích nào, học sinh trường Phan Bội Châu đều lao động rất nhiệt tình, có năng suất cao, được khen ngợi.

Lao động sản xuất: trong khoảng thời gian từ 1975 đến 7981, việc lao động sản xuất chủ yếu là làm cho một số cơ sở và hợp tác xã, hình thức lao động còn mò mẫm, phụ thuộc vào công việc có thể kiếm được. Trong hình thức lao động này, học sinh của trường đã góp phần làm ra hàng trăm tấn muối, hàng chục ngàn lít nước mắm, hàng ngàn viên gạch ngói… Từ năm học 1981- 1982 trở đi, nhà trường bắt đầu định hướng được công việc của mình, tạo ra một số ngành nghề để có thể chủ động kế hoạch từ đầu đến cuối năm học. Trong việc “Tự túc lương thực”, tháng 3/1978, thầy trò nhà trường hành quân lên Bình Tú khai hoang 6 ha trồng khoai lang, cao lương. Ở trường, một số ngành lao động đi vào hoạt động thường xuyên, mà nổi bật là ngành đan lá buông, ngành may.

Đến nay, nhìn lại một cách đầy đủ thì có thể công việc lao động trong những năm ấy có phần nào mang tính chất phong trào, hiệu quả không thiết thực, nhưng mặt khác, phải thấy rằng, từ một vùng đô thị chịu ảnh hưởng nặng nề của lối sống tiêu dùng, lối học xa rời thực tế, xa rời lao động, thì việc giáo dục lao động và tham gia lao động sản xuất đã tạo một bước biến đổi rõ rệt trong tâm hồn thầy và trò trong nhà trường, giúp thầy và trò trường Phan Bội Châu biết quý trọng lao động, gần gũi và quý trọng nhân dân lao động, gắn bó hơn với thực tế cuộc sống. Chính những hoạt động lao động sản xuất ấy cũng gắn kết học sinh với nhà trường, với tập thể trường lớp hơn, các thầy cô giáo cũng gần gũi với học trò của mình hơn, hiểu học trò hơn để có được những cách thức giáo dục và giảng dạy có tác dụng và hiệu quả hơn.

 

HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI :

Gắn liền nhà trường với đời sống, coi thực tế đời sống là môi trường quan trọng để giáo dục, trường Phan Bội Châu từ đầu đã coi trọng việc tham gia các hoạt động xã hội.

Trong năm học thứ hai (1976- 1977), với sự giúp đỡ của Ty Văn hóa tỉnh Thuận Hải, trường đã thành lập được một đội văn nghệ với một chương trình biểu diễn đầy đủ cả ca, múa, thơ, nhạc, có tính nghệ thuật khá cao. Đoàn đã tổ chức một buổi biểu diễn ở Phan Rang để chào mừng Đại hội lần thứ nhất Đảng bộ tỉnh Thuận Hải. Sau đó tổ chức một đêm diễn tại rạp 19-4, được nhiều người ủng hộ. Hàng năm trường đều tổ chức cho học sinh tham gia biểu diễn văn nghệ tại trường hoặc ở Hàm Tiến, Mũi Né được nhân dân mến mộ.

Thực hiện chủ trương của Ngành “Một Hội đồng hai nhiệm vụ”, vừa cố gắng làm tốt việc giảng dạy cho học sinh phổ thông của mình, trường Phan Bội Châu cũng vừa tổ chức các lớp dạy cho học viên Bổ túc Văn hóa cấp 3, góp phần nâng cao dân trí, trang bị kiến thức cơ bản cho số đông thanh niên, cán bộ của địa phương. Trường còn đảm nhận công tác xóa mù chữ cho nhân dân các phường Bình Hưng, Hưng Long… Hàng trăm học sinh của trường đã tham gia công tác cải tạo công thương nghiệp, đổi tiền… Nhiều đoàn nghệ thuật trong nước đã tận dụng sân khấu của trường để biểu diễn nghệ thuật, làm thay đổi bộ mặt sinh hoạt văn hóa của các Đô thị miền Nam những ngày đầu mới giải phóng.

 

NỀN NẾP QUÂN SỰ VÀ RÈN LUYỆN QUÂN SỰ:

Thực hiện việc bảo vệ trường trong những ngày đầu giải phóng, từ năm học đầu tiên, trường được sự giúp đỡ của cơ quan quân sự địa phương, đã xây dựng tại trường một lực lượng tự vệ, có huấn luyện, có trang bị vũ khí, tổ chức trực gác ban đêm. Đó cũng là cơ sở để hình thành trong nhà trường một nền nếp sinh hoạt kỷ cương nghiêm túc.

Trong những năm sau, việc huấn luyện quân sự dần đi vào nền nếp. Đặc biệt là trong những năm trước và sau chiến tranh biên giới, lực lượng tự vệ trường càng trở nên vững mạnh. Năm học 1975-1976: 2 tiểu đội, có 18 chiến sĩ; năm 76-77: 1 đại đội, 70 chiến sĩ; năm 77-78: 1 đại đội, 142 chiến sĩ. Trong những năm sau mỗi lớp là một trung đội, toàn trường có 4 đại đội và đã thành lập Tiểu đoàn Nguyễn Hội.

 

HÌNH THÀNH VIỆC XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC:

Lúc này quan điểm xã hội hóa giáo dục chưa được đề cập đến nhiều. Song nhà trường đã ý thức được xã hội hóa giáo dục là việc cần thiết và đã từng bước xây dựng. Trước hết thay sổ “liên lạc” bằng sổ “Phối hợp giáo dục” tạo ra ý thức trong giáo viên, phụ huynh về trách nhiệm của mỗi bên trong việc giáo dục học sinh. Hội Cha mẹ học sinh được tổ chức theo lớp có Chi hội và theo địa phương cũng có Chi hội. Sinh hoạt theo định kỳ kết thúc học kỳ và năm học. Đại diện Ban giám hiệu và giáo viên chủ nhiệm báo cáo tình hình học tập của học sinh trước đại diện chính quyền và tất cả phụ huynh, đồng thời lấy ý kiến của địa phương và Cha mẹ học sinh. Hoạt động này đã giúp nhà trường, giáo viên hiểu rõ hơn về thực tế đời sống địa phương và đồng thời cũng giúp nhân dân hiểu thêm về hoạt động của trường và đặc biệt là biết rõ con em mình để phối hợp cùng nhà trường trong giáo dục học sinh.

Mười năm (1975-1985), đất nước trải qua cơn chuyển mình từ thời chiến sang thời bình, cũng là mười năm trải qua những thử thách thật to lớn. Trong mười năm ấy, mặc dù đời sống kinh tế của Thầy trò gặp nhiều khó khăn, đặt trong cơ chế bao cấp từ cây kim, sợi chỉ đến sách vở, bút mực song vẫn vui vẻ hoàn thành nhiệm vụ – những nhiệm vụ nặng nề của thời kỳ đầu xây dựng nhà trường xã hội chủ nghĩa.

V. NHÀ TRƯỜNG TRONG NHỮNG NĂM ĐẤT NƯỚC ĐỔI MỚI:

Thời gian bao cấp trì trệ cùng những khó khăn của thời chiến tranh để lại, đã tác động xấu đến đời sống kinh tế của một bộ phận lớn nhân dân. Chăm lo cho chuyện học hành của con em trở nên gánh nặng mà nhiều gia đình không kham nổi. Số học sinh đến trường ngày một giảm, nhất là những năm từ cuối thập niên 80 đến đầu thập niên 90. Năm học 1987 – 1988 tuyển sinh vào lớp 10 có đến 831 em, đảm bảo trên tiêu chuẩn theo yêu cầu tối thiểu của Bộ. Toàn trường 54 lớp với 2173 học sinh. Bốn năm sau, năm học 1990 – 1991 tất cả đều giảm xuống hơn một nửa, tuyển vào lớp mười chỉ có 472 em, điểm tuyển sinh còn phải hạ so với điểm chuẩn tối thiểu. Toàn trường còn 36 lớp với 1482 học sinh. Học sinh ít, lớp ít, thầy cô giáo thừa.

Do đời sống kinh tế khó khăn, do thực hiện chủ trương giảm biên chế, một số thầy cô giáo phải xin về. Tuy đã bỏ nghề dạy học, nhưng nhiều thầy cô vẫn chưa dứt được cái nghiệp “Trồng người”. Vẫn đèn sách, vẫn giáo án dù chỉ để dạy cho 5, 3 học sinh con em mình, con em láng giềng sau những giờ lao động nặng nhọc lo chuyện áo cơm. Thực vô cùng cao quý !

Trong nhiều năm kinh phí đầu tư cho tu sửa không nhiều, phòng ốc cửa nẻo, bàn ghế, rào dậu xuống cấp hư hỏng. Trong hoàn cảnh đó, việc phải giữ cho “trường ra trường” được nêu thành khẩu hiệu với quyết tâm của cả thầy trò. Đa số thầy cô giáo bị chi phối bởi đời sống kinh tế khó khăn, song những hoạt động giáo dục trong nhà trường vẫn được duy trì một cách nghiêm túc. Dẫu điện đêm có, đêm không, dẫu sách dùng chung, mà tên người mượn những năm trước đã ký đầy ở trang theo dõi của thư viện, những dòng in đậm định nghĩa, định lý, những đoạn nội dung trọng tâm đã được bào mòn bởi dấu tích học hành của học sinh đàn anh đàn chị, thế nhưng chất lượng và hiệu quả vẫn không hề sa sút. Tỷ lệ tốt nghiệp hằng năm vẫn cao, vẫn có nhiều học sinh giỏi, xuất sắc. Phong trào văn nghệ, thể dục thể thao vẫn sôi nổi. Thầy trò tham gia lao động hăng say, nhiệt tình từ thủy lợi Sông Pha, đập nước Phú Hội, lò gạch 37, trồng khoai Bình Tú, hồ tôm Phú Thủy… Mồ hôi và tiếng hát là kỷ niệm đẹp của một thời còn mãi.

Chỉ một ít năm đó thôi, nhà trường lại tiếp tục phát triển trong nhiều mặt theo nhịp chung của thời kỳ đổi mới.

Điều được quan tâm tập trung đầu tư trước hết là xây dựng cơ bản. Đầu năm 90 nhà trường đã nhận khoản kinh phí của chương trình chống xuống cấp để tu sửa nhỏ, giải quyết những khó khăn trước mắt trong học tập và sinh hoạt, chỉ đủ tu sửa dãy lầu 16 phòng. Các phòng học cấp 4, các phòng làm việc, tường rào trước cổng trường vẫn còn dấu tích hư hỏng của thời chiến tranh để lại. Năm 1995, trường đã truy tìm lại được bản đồ địa giới, tích cực tham mưu UBND Tỉnh ra quyết định thu hồi phần đất của trường đã nhiều năm bị lấn chiếm, kể cả khu đất có một số nhà dân đã xây dựng trước năm 1975 trong khuôn viên nhà trường, vì chưa có điều kiện đền bù nên UBND Tỉnh chưa giải tỏa hết. Cuối năm 1995 UBND Tỉnh đã phê duyệt “Dự án khả thi” tu sửa và xây dựng mới với tổng kinh phí gần 5 tỷ đồng. Từng hạng mục của dự án trên đã lần lượt thực hiện cho đến năm học 2001 – 2002 xây dựng mới thêm hai dãy lầu 36 phòng học, thư viện, hội trường, phòng giáo viên và các phòng làm việc, cùng với các công trình sân đường nội bộ, tường rào, sân cỏ và hệ thống thoát nước, nhà vệ sinh và công trình y tế.

Trường đã được quy hoạch tổng thể gồm 4 khu vực:

Khu vực phòng học gồm 3 dãy lầu với 52 phòng kiên cố đảm bảo yên tĩnh, đầy đủ ánh sáng thông thoáng.
Khu vực thí nghiệm thực hành gồm đủ các phòng thí nghiệm cho các môn tự nhiên và kĩ thuật, phòng lab, vi tính và thư viện cùng hệ thống các phòng bộ môn.

Khu quản lý có đầy đủ các phòng chức năng, các phòng làm việc của Ban Giám Hiệu, các phòng dành cho Chi Bộ, Công Đoàn, Đoàn Đội, Văn Thư, Thủ Quỹ, Kế Toán, Học Vụ, Giám Thị, Hội Trường và phòng nghỉ giáo viên.

Khu vực rèn luyện thể chất sân vận động, sân bãi luyện tập thi đấu các môn thể thao, phòng y tế, căn tin và hệ thống nhà vệ sinh.

Bốn khu vực được bố trí tương đối biệt lập nên tổng mặt bằng 24.500m2 và đảm bảo hoạt động này không chi phối đến hoạt động kia. Những thảm cỏ tưởng chừng không giữ nổi dưới gần mười ngàn bàn chân hiếu động của học sinh, nhưng hàng ngày vẫn xanh mượt ngay cả trong mùa hanh nắng, cùng với những tán me tây

 

Trích: http://violet.vn/thpt-phanboichau-binhthuan/entry/show/cat_id/75935/entry_id/537124



5 Phản hồi cho bài “TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG PHAN BỘI CHÂU”

  1. Đi du lịch (Tháng Sáu 10th, 2011 at 3:50 chiều) đã viết:

    Trường này hình như ngày xưa người yêu tui học nè. Giờ nhìn khác ghê luôn. hihi

  2. Lord (Tháng Sáu 10th, 2011 at 4:13 chiều) đã viết:

    Trường Phan Bội Châu bây giờ thay đổi lắm. Một diện mạo trẻ hơn, hiện đại hơn nhiều :)

  3. Ann Nguyen (Tháng Mười Một 16th, 2011 at 1:23 sáng) đã viết:

    Toi co mot nguoi ban la hoc sinh cua qui truong truoc nam 1975. Mat lien lac to nam 1978. Xin qui truong co the giup cho toi lien lac voi nguoi do hay gia dinh duoc khong?

    Xin cam on.

    Ann Nguyen

  4. bttruc (Tháng Mười Một 19th, 2011 at 3:06 sáng) đã viết:

    Việc này khá khó, mình cũng ít liên hệ với trường …. Không biết trường có hội CHS ko nữa .
    —chaophanthiet—

  5. Nguyễn Thị KIm Ngân (Tháng Mười Hai 27th, 2011 at 2:59 sáng) đã viết:

    Số điện thoại của các thầy cô giáo chủ nhiệm các lớp11 của Trường

Gởi phản hồi

(*)
(sẽ được giữ kín)(*)

Địa danh Phan Thiết

Góc ảnh lữ hành

Tags

Quảng cáo

quang cao quang cao

Hitstats